Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển ngoại ngữ của nhân viên ngành công nghiệp du lịch ở thái Lan và Việt Nam

[tintuc]

Trang này tập trung vào điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu phát triển ngoại ngữ của nhân viên ngành du lịch ở Thái Lan và Việt Nam. Có 6 dự đoán khác nhau đã được kiểm tra lại nằm trong 2 nguyên nhân chính : Nhân tố bên ngoài-khách quan (chính sách nhà nước, sự thăng tiến ở nơi làm việc, sự giúp đỡ của gia đình); các nhân tố bên trong-chủ quan (thái độ với công việc và ngoại ngữ. mong muốn vươn tới sự hoàn thiện và lòng tự trọng). Những phát hiện này đã được phân tích  và so sánh giữa 2 nước. Và kết quả từ nghiên cứu được kì vọng sẽ đem lại lợi ích cho cả 2 quốc gia, cộng đồng, cơ quan, gia đình và bản thân các nhân viên đó, vể mặt phát triển nguồn nhân lực chuyên nghiệp trong ngành công nghiệp du lịch.

Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển ngoại ngữ của nhân viên ngành công nghiệp du lịch ở thái Lan và Việt Nam


I. Bản Tóm Tắt


Nghiên cứu này nhằm điều tra về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển ngoại ngữ của nhân viên ngành du lịch ở Thái và Việt Nam về các phương diện :

1. Mối quan hệ  giữa cả yếu tố khách quan và chủ quan và nhu cầu phát triển khả năng ngoại ngữ  của nhân viên trong ngành du lịch

2. Về việc xây dựng những dự đoán về sự thay đổi trong nhu cầu phát triển ngoại ngữ

3. Về sự so sánh các yếu tố liên quan đến nhu cầu trong phát triển ngoại ngữ giữa nhân viên du lịch Thái Lan (732 người) và Việt Nam (306 người) trong ngành công nghiệp du lịch ở cả 2 nước. Tài liệu chính thức cho bộ dữ liệu này là bảng câu hỏi của Likert. Các dữ liệu được phân tích qua tần số, phần trăm, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị nhất thời,  hệ số tương quan và hồi qui đa biến của Pearson

Dưới đây là kết quả tìm được:


1. Yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu trong việc phát triển ngoại ngữ của nhân viên trong ngành du lịch Thái với trị số thống kê 0.01 là mong muốn vươn tới sự hoàn thiện và yếu tố với trị số 0.05 là quan niệm về công việc và ngoại ngữ. Trong khi những yếu tố liên quan đến những điều này ở nước Viêt Nam trong mục 1 đáng nói là các chính sách của nhà nước, mong muốn vươn tới sự hoàn thiện và long tự trọng, và ở mức 0.05 là sự giúp đỡ của gia đình. Ngoại ngữ của các nhân viên trong ngành du lịch ở Thái là nhu cầu thành tích và thái độ hướng tới công việc cũng như ngoại ngữ. Những nhân tố có thể dự đoán là 7,3% . Liên quan đến các viên chức ngành du lịch Việt nam, các nhân tố này phỏng đoán sự cần thiết của họ là do chính sách nhà nước, sự thăng chức ở nơi làm việc, thái độ với công việc cũng như ngoại ngữ và lòng tự trọng. Khả năng dự đoán được của các yếu tố này là 18,3 %

2. Bằng cách so sánh, về 1 nhân tố đơn tương tự , thái độ với công việc và ngoại ngữ, ảnh hưởng đến nhu cầu nhân viên ngành du lịch của cả 2 nước Thái Lan và Việt Nam

II. Giới thiệu


GMS-tiểu vùng sông Mekong là 1 vùng kinh tế được bao quanh bới sông Mekong, gồm 2,6 triệu km2 với dân số khoảng 326 triệu thuộc 6 quốc gia có chung sông Mekong. Các quốc gia tiểu vùng sông Meekong là Thái, Lào, Campuchia, Myanma, Việt Nam, Trung Quốc với sự giúp đỡ từ ngân hàng phát triển châu Á (ADB) hợp tác và đã thành lập khu vực hợp tác kinh tế sông Mêkong năm 1992 để tăng cường mối quan hệ kinh tế giữa các nước. Sự hiện đại hóa công nghiệp hóa đã nhanh chóng nổi lên từ một quá trình chuyển tiếp và chuyển đổi. Các quốc gia GMS đang dần chuyển dịch từ kinh kế trồng trọt sang đa dạng hóa hơn về kinh tế và mở cửa hơn, các hệ thống thị trường cơ sở. Quả thực. vùng Mekong có tiềm năng trở 1 trong những vùng tăng trưởng kinh tế nhanh nhất trên thế giới. Nhiều cơ cấu chiến lược của GMS đã được và đang được phát triển để giúp GMS trở thành vùng tăng trưởng kinh tế mới của châu Á. Một ưu tiên cao hơn là các dự án phát triển vùng trong ngành du lịch.

Kinh doanh du lịch ở GMS là ngành lớn nhất trong cơ cấu kinh tế của mỗi nước GMS. Sự tiến triển đáng kể đã đạt được vể mặt bổ sung các dự án trong ngành du lịch ở GMS trong các năm 2003-2011 với hỗ trợ rất lớn của ADB cho ngành kinh doanh du lịch của vùng. Tổ chức du lịch thế giói WTO và  Hiệp hội lữ hành châu Á Thái Bình Dương PATA đã tiết lộ dần dần các điểm đến cho du khách ở GMS. Trong năm 2002 có 16 triệu du khách đến thăm quan, 22,4 triệu trong năm 2006 và 30 triệu trong năm 2010. Mục tiêu của các nước GMS là 52 triệu du khách đến và 53 tỉ $ thu được trong ngành du lịch trong năm 2015 (Ngân hàng phát triển châu Á 2011) và đến năm 2020 ước lượng khoảng 1,6 triệu du khách quốc tế đến vùng (ASTV online Manage, 2010). Bởi vậy, ngành du lịch được coi là 1 ngành kinh tế chiến lược quan trọng  của vùng.

Thái Lan và Việt Nam thực sự đã có mối quan hệ lâu dài trong lịch sự. Về mặt du lịch Thái Lan có nhiều kinh nghiệm hơn các nước láng giềng, đang có sự tăng trưởng cơ bản trong công nghiệp chuyên nghiệp Thái Lan nổi tiếng là 1 trung tâm du lịch nhờ tiềm năng lớn và tập thể lãnh đạo trong khu vực châu Á. Điều này giúp xác định phương hướng và tăng trưởng của ngành kinh doanh du lịch ở GMS. Hiện tại Việt Nam được xếp vào 1 trong những nước có lượng du khách đến tăng nhanh nhất trên thế giới (theo hội đồng du lịch và lữ hành thế giới). Khoảng 6 triệu du khách quốc tế năm 2011. Điều này cũng tương xứng đối với 1 trung tâm du lịch mới trong vùng, nhờ vào vốn quý là sức cuốn hút mạnh mẽ của tự nhên, lịch sử và văn hóa. Hai nước láng giềng chính thức kí hiệp định hợp tác, đầu tư và miễn visa đi lại trong ngành du lịch. Mặc dù 2 nước liên minh hợp tác sát cánh bên nhau để thành công các dự án nhằm thúc đẩy sự phát triển của vùng, nhưng thực tế cho thấy đây đồng thời cũng là những cuộc cạnh tranh về kinh tế mang tính quyết định trong ngành du lịch.

Tuy nhiên ngành du lịch của cả 2 nước vẵn gặp một vài khó khăn trong phát triển nhân lực, cụ thể là trong ngoại ngữ và dịch vụ. Những nhân viên trong ngành du lịch rất cần có khả năng với một ngoại ngữ hoặc nhiều hơn để giao tiếp hiệu quả với người nước ngoài. Nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra rằng năng lực ngoại ngữ của nhân viên ngành du lịch của cả 2 nước  không đủ khả năng để đáp ứng công việc của họ. Phần lớn nhân viên ngành lịch Thái không để ý đến kĩ năng thực hành trong khi ở Việt Nam những nhân viên trong ngành có khả năng ngoại ngữ thấp hơn so với mức tiêu chuẩn ,đặc biệt tiếng Anh. Đây là 1 sự trở ngại cho sự phát triển ngành du lịch không chỉ của đất nước mà còn trình độ của vùng. Tuy có thế có vài nhân tố khác liên quan đến trở ngại phát triển ngành nghề này. Bởi vậy nhà nghiên cứu quan tâm đến việc điều tra những yếu tố liên quan đến việc thực hiện và nhu cầu trong sự phát triển ngoại ngữ của nhân viên ngành du lịch ở 2 quốc gia.

III. Mục đích của nghiên cứu


Nghiên cứu này cung cấp những hiểu biết về sự phát triển chuyên môn nghiệp vụ của nhân viên ngành kinh doanh du lịch ở Thái Lan và VIêt Nam. Những mối quan tâm chính xác định từ nghiên cứu này là các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu của nhân viên ngành du lịch ở 2 nước trong việc phát triển năng lực ngoại ngữ của họ. Các biến số được dự đoán về nhu cầu phát triển ngoại ngữ  đã được kiểm tra. Hơn nữa, nghiên cứu thực hiện so sánh về các nhân tố ảnh hưởng giữa hai nước. Xem thêm bài viết Chương Trình Khám Phá Du Lịch Thái Lan hấp dẫn ra sao ?

IV. Những người tham gia và phương pháp nghiên cứu


Nghiên cứu được thực hiện  từ  12/2011 đến 1/2012. Những người tham gia vào nghiên cứu đã khảo sát nhân lực từ nhiều ngành du lịch như hàng không, xuất nhập cảnh, đại sứ quán, văn phòng du lịch, khách sạn nhà nghỉ, đại lí du lịch, nhà hàng, của hàng lưu niệm... Có 723 người được chọn từ 3 thành phố du lịch phía bắc Thái Lan là Chiang Mai, Chiang Rai và Lampang và 306 người từ 3 thành phố du lịch ở Bắc Việt Nam là Hà Nội, Quảng Ninh, Ninh Bình.

Đối với thu thập dữ liệu, dữ liệu định lượng được lấy từ một cuộc điều tra nhu cầu của những người tham gia trong phát triển ngoại ngữ. Bảng câu hỏi được làm bởi người tham gia của cả 2 nước Việt Nam và Thái Lan. Hai yếu tố dự đoán chính liên quan đến nhu cầu đã được kiểm tra. Đó là yếu tồ bên ngoài bao gồm chính sách nhà nước, sự thăng tiến ở nơi làm viêc,  sự giúp đỡ từ gia đình. Và các yếu tố bên trong bao gồm thái độ với công việc và ngoại ngữ, mong muốn vươn tới sự hoàn thiện, và lòng tự trọng.

V. Bản Phân tích dữ liệu


Phân tích định lượng đã tập trung vào phương pháp miêu tả với các dữ liệu được thu thập từ bộ câu hỏi  bằng cách sử dụng phần mềm thống kê SPSS để tìm ra tần số phương tiện, độ lệch chuẩn và tỉ lệ phần trăm. Phép thống kê Pearson với hệ số tương quan thời điểm  kiểm tra và hồi qui đa biến được sử dụng để tìm ra mối quan hệ, sự khác biệt và khả năng dự đoán của các biến có liên quan. Các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu phát triển ngoại ngữ của nhân viên ngành du lịch Thái Lan.

Như đã để cập ở trên , mục đích của nghiên cứu này là nghiên cứu về nhu cầu và các nhân tố liên quan đến việc phát triển chuyên môn nghiệp vụ của nhân viên ngành du lịch. Nghiên cứu cũng tiết lộ rằng 30.7% nhân viên ở Thái nhận thức được rằng năng lực ngoại ngữ của họ cần phải cải thiện. Phần lớn nhân viên  (92,8%)  đã bày tỏ nhu cầu của họ trong phát triển khả năng ngoại ngữ. Ba ngoại ngữ mà nhân viên Thái muốn học nhất là Tiếng Anh 52%, Trung Quốc 36,1% và Nhật 6,2%

Liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng, 2 nhóm loại ngoại và nội nhân tố đã được kiểm tra để dự đoán số nhu cầu cải thiện ngôn ngữ của họ. Các yếu tố bên ngoài bao gồm các chính sách nhà nước, sự thăng tiến ở nơi làm việc và sự giúp đỡ của gia đình. Các yếu tố bên trong bao gồm thái độ với công việc và ngoại ngữ, động cơ về thành tích và long tự trọng. Nghiên cứu đã tiết lộ rằng tất cả những nhân tố bên ngoài không liên quan nhiều đến nhu cầu của nhân viên Thái. Những yếu tố bên trong - mong muốn vươn tới sự hoàn thiện và thái độ với công việc là những biến số nổi bật được dự đoán, bởi vì chúng đã chỉ ra mối quan hệ rõ ràng với nhu cầu  của nhân viên ở mức trị số thống kê là 0.01 và 0.05 theo thứ tự.

*** Những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu phát triển khả năng ngoại ngữ của nhân lực trong ngành du lịch Việt Nam


Nghiên cứu này cho thấy, hơn một nửa số nhân lực trong ngành du lịch Việt Nam (57,2%) có trình độ ngoại ngữ ở mức trung bình. Đồng thời phần lớn trong số họ (97,1%) có nhu cầu phát triển trình độ ngoại ngữ của mình. Ba ngoại ngữ mà nhân lực trong ngành du lịch Việt Nam muốn học nhất là tiếng Anh (33,3%), tiếng Trung (29,7%) và tiếng Nhật (13,4%). Khi so sánh những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu phát triển khả năng ngoại ngữ của nhân viên, cả hai yếu tố khách quan và chủ quan đều có vai trò chi phối. Đối với các yếu tố khách quan – chính sách của chính phủ và sự hỗ trợ từ gia đình – đều có quan hệ quan trọng đến nhu cầu trên với các mức trị số là 0.01 và 0.05. Ngoài ra các yếu tố chủ quan như động lực để đạt đến sự hoàn thiện và lòng tự trọng cũng đóng vai trò quan trọng với mức trị số là 0.01.

*** So sánh những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu phát triển khả năng ngoại ngữ của nhân lực trong ngành du lịch hai nước.


Phần nghiên cứu này đã tìm ra được những yếu tố có ảnh hưởng quyết định đến sự khác nhau giữa nhu cầu phát triển khả năng ngoại ngữ của nhân lực trong ngành du lịch Thái Lan và Việt Nam. Các kết quả quan trọng là rất rõ ràng. Bảng dưới đây thể hiện sự so sánh các giá trị của các yếu tố khách quan bao gồm 3 yếu tố chính là chính sách của chính phủ, sự khuyến khích của cơ quan và sự hỗ trờ từ gia đình. Với kết quả đưa ra là tất cả những yếu tố ở Thái Lan và Việt Nam đều có những khác biệt quan trọng với trị số thống kê ở mức 0.05

*** Biểu đồ 1: Biểu đồ so sánh sự khác nhau của các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến nhu cầu phát triển khả năng ngoại ngữ giữa nhân lực trong ngành du lịch Thái Lan và Việt Nam

Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển ngoại ngữ của nhân viên ngành công nghiệp du lịch ở thái Lan và Việt Nam

Đối với những yếu tố chủ quan, nghiên cứu này cũng đã khảo sát 3 yếu tố chính là quan điểm đối với nghề nghiệp và ngoại ngữ, động lực vươn tới sự hoàn thiện và lòng tự trọng. Khi so sánh những yếu tố ảnh hưởng đến nhân lực du lịch Thái Lan và Việt Nam thấy rằng 2 yếu tố động lực vươn tới sự hoàn thiện và lòng tự trọng có sự khác nhau rõ rệt với mức trị số thống kê là 0.05. Điều đáng chú ý là yếu tố quan điểm đối với nghề nghiệp và ngoại ngữ là yếu tố duy nhất không có sự khác nhau với trị số thống kê là 0.05 như biểu đồ dưới đây.

*** Biểu đồ 2: Biểu đồ so sánh sự khác nhau của các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến nhu cầu phát triển khả năng ngoại ngữ giữa nhân lực trong ngành du lịch Thái Lan và Việt Nam

Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển ngoại ngữ của nhân viên ngành công nghiệp du lịch ở thái Lan và Việt Nam

VI. Kết luận và đề xuất


Công nghiệp du lịch được đánh giá là một ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược của các nước lưu vực sông Mekong và mang lại nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho khu vực. Hai nước Thái Lan và Việt Nam đang tìm kiếm những lợi thế cạnh tranh và cố gắng để ngành dịch vụ này phát huy thế mạnh nhằm thu về lợi ích tài chính cho đất nước. Mặc dù báo cáo về du lịch của 2 nước đều cho thấy du lịch là một ngành quan trọng mang lại thu nhập cho quốc gia nhưng vẫn còn một số vấn đề cần phát triển, ví dụ như việc giao tiếp bằng ngoại ngữ của nhân lực du lịch và nhu cầu phát triển thành chuyên nghiệp của họ.

Kết quả nghiên cứu cho thấy có những yếu tố quan trọng làm tăng nhu cầu cải thiện năng lực ngoại ngữ của nhân lực trong ngành du lịch. Những yếu tố có ảnh hưởng đến nguồn nhân lực du lịch Thái Lan là động lực vươn tới sự hoàn thiện và quan điểm đối với nghề nghiệp và ngoại ngữ. Đối với nguồn nhân lực của Việt Nam, các yếu tố có ảnh hưởng là chính sách của chính phủ, sự khuyến khích của cơ quan, sự hỗ trợ từ gia đình và lòng tự trọng của bản thân.

VII. Nghiên cứu này đưa ra những đề xuất đối với 2 quốc gia như sau


Đầu tiên, đề xuất quan trọng nhất là các chính sách và chiến lược của chính phủ phải bao gồm cả việc phát triển nguồn nhân lực trong chương trình quốc gia. Thủ tục hành chính quan liêu có thể cản trở sự phát triển và tăng trưởng. Theo những quy định về tài chính và đầu tư, những doanh nghiệp du lịch vừa và nhỏ có rất ít nguồn lực để đào tạo nhân viên và năng lực hạn chế trong việc cạnh tranh với các tổ chức lớn hơn, nhất là các doanh nghiệp của nhà nước. Sự hỗ trợ về tài chính và nguồn tài trợ từ chính phủ là rất cần thiết đối với khối này. Đồng thời đối với các cơ quan về du lịch nên xây dựng hoặc sửa đổi và xúc tiến các chính sách dài hạn về đào tạo ngoại ngữ. Các cơ quan tổ chức cần tạo điều kiện về tài chính, sự hỗ trợ, khuyến khích hay khích lệ để động viên nhân viên phát triển trở thành chuyên nghiệp.

Thứ hai, các cuộc hội thảo nhằm tăng cường nhận thức cho các cơ quan và người có khả năng thực hành và giao tiếp ngoại ngữ tốt là việc làm cần thiết cần được đẩy mạnh để giúp hiểu hơn về sự cần thiết phải có nguồn nhân lực du lịch có chất lượng.

Thứ ba, đối với Thái Lan cần phải đẩy mạnh việc đào tạo, tập huấn các kỹ năng cho nhân viên trong ngành du lịch. Tuy nhiên, cấp độ đào tạo cũng cần được tăng lên. Các tổ chức liên quan đến du lịch, cơ sở giáo dục và đào tạo về du lịch cần phải thiết kế các chương trình đào tạo ngoại ngữ đặc biệt cho các nhà quản lý, chủ sở hữu, người điều hành các cơ quan du lịch ở trình độ cao hơn để phát triển khả năng của họ. Một sự lựa chọn khác đối với những người muốn tự phát triển khả năng của mình, nhất là những người bị hạn chế về thời gian là học trực tuyến (e-learning).

Thứ tư, đối với Việt Nam mạng liên kết du lịch trong nước vẫn còn chưa đủ mạnh. Mặc dù đã có nhiều đơn vị kinh doanh du lịch nhưng chương trình và dịch vụ họ cung cấp vẫn còn khá yếu kém. Vì vậy sự tham gia và liên kết giữa các đơn vị du lịch trong nước với các thành viên trong hiệp hội các quốc gia lưu vực sông Mekong cần được xem xét để đẩy mạnh hợp tác, trao đổi thông tin, hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau. Các nước thành viên cũng nên tổ chức các hội nghị thường niên nhằm trao đổi và tư vấn cho các doanh nghiệp.

Điều cuối cùng nhưng cũng không kém phần quan trọng là các nghiên cứu có tính định hướng ở một số nước tiểu vùng sông Mekong vẫn chưa được hỗ trợ tốt. Vì vậy cần thực hiện nhiều hơn các nghiên cứu về du lịch và sự phát triển chuyên nghiệp. Các lĩnh vực khác của ngành du lịch và đặc điểm của nguồn nhân lực cũng cần được xem xét để thực hiện những nghiên cứu trong tương lai. Xem thêm bài viết Báo Giá Tour Thái Lan khách sạn tiêu chuẩn 3 sao như thế nào ?

Tuy nhiên, để sự phát triển thành chuyên nghiệp thành công cần có quá trình thay đổi từ cả hai phía cá nhân và các tổ chức. Ngoài ra cũng cần có sự hỗ trợ nhóm, giám sát liên tục và một tổng thể các biện pháp cải cách khác nhau. Hy vọng rằng nghiên cứu này sẽ mang lại lợi ích cho ngành công nghiệp du lịch cả hai nước Thái Lan và Việt Nam. Nghiên cứu này có thể hỗ trợ và phổ biến tới các cơ quan và tổ chức du lịch khác ở các nước tiểu vùng sông Mekong nhằm thúc đẩy sự phát triển tiểm năng của họ và mang lại những lợi ích cho các cá nhân và tổ chức.

Nguồn
Pat Romaya
Loei Rajabhat University, Thailand

[/tintuc]


Link topic :

Tags:

Hotline0911.46.33.89 Tâm Pacific