báo giá tour thái lan báo giá tour campuchia

Chương 8 - Khi trẻ ăn quá nhiều - Bé Yêu Học Ăn

Cha mẹ có từ hai con trở lên thường nhận xét rằng, từ rất sớm, họ thấy bọn trẻ trong nhà mỗi đứa tiếp cận thức ăn một cách khác nhau. Một gia đình có con gái lớn ăn kém, nhẹ ký, kể với tôi rằng đứa con gái nhỏ của họ thì gặp vấn đề ngược lại, bé không biết dừng và quá cân. Cha mẹ các trẻ béo phì thường nhận xét là con họ thích ăn www.baogiatour.com không có chuyện liếc thấy những món ngon lành mà không muốn ăn.

Chương 8 - Khi trẻ ăn quá nhiều - Bé Yêu Học Ăn

Ngay cả khi vừa mới ăn một bữa no căng. Họ cũng than phiền là con cái cứ nài mua đồ ăn mỗi khi đi mua sắm, với trẻ đủ lớn thì tự mở tủ lạnh lấy thức ăn. Cha mẹ mô tả rằng, chúng thậm chí tìm được thức ăn ở cả những nơi giấu kín, và chúng nổi cơn tam bành khi cha mẹ cố gắng kiềm chế lối ăn uống của chúng. Bạn đang xem Chương 8 - Khi trẻ ăn quá nhiều trong sách Bé Yêu Học Ăn. Để hiểu lối ăn uống của trẻ béo phì. Ba loại cảm giác đói. Một thiếu niên béo phì chữa trị ở chỗ chúng tôi, đã giải thích cho tôi rằng có ba loại cảm giác đói : cảm giác đói ở miệng, cảm giác đói ở bụng, và cảm giác đói từ tâm tưởng ( đói tại tâm ).

I. Cảm giác đói ở miệng


Về cảm giác đói này, cô bé giải thích là : vị của một số món ăn quá tuyệt vời, quá mãnh liệt, đến nỗi cô ăn không thấy no, cho tới khi không còn cái món ngon lành ấy mà an nữa. Cô bé cho một ví dụ khi nướng bánh hạnh nhận, bánh quá ngon đến nỗi không kìm được, cô ăn hết cả chảo bánh. Đến lúc đó, cô mới nhận ra mình no quá, đến nỗi không dám cử động vì sợ dạ dày vỡ mất. Cô bé kể là đã phải ngồi bất động một lúc lâu, cho đến khi thấy an toàn rồi mới dám động đậy.

Mặc dầu thí dụ trên có vẻ cực đoan, nhưng là điều mà ta có thể quan sát thấy, ở nhiều mức độ khác nhau, trên những trẻ bị thức ăn cuốn hút đến cùng cực. Một bà mẹ có con béo phì đang tuổi tập đi, kể với tôi rằng, cô rất sợ dẫn con đi ăn sinh nhật, vì bé sẽ mọc rễ cạnh cái bàn để đồ ăn, tiếp tục ăn ngay cả khi tất cả trẻ khác đã rời khỏi bàn và mải mê chơi đùa. Những thí dụ này, cho thấy cái mà y văn từng mô tả, là đáp ứng gia tăng với vẻ ngoài của thức ăn, dẫn tới việc trẻ béo phì tuy bụng không đói, nhưng vẫn muốn ăn những món ngon lành.

II. Cảm giác đói ở bụng


Một than phiền rất phổ biến của các phụ huynh có con béo phì là bọn trẻ dường như ăn không biết dừng, và chúng thường cứ ăn, ăn mãi, cho đến khi không còn gì để ăn. Một gia đình kể tôi nghe có lần, vào bữa tối, họ đã thử đứa con gái 2 tuổi xem trẻ có biết khi nào trẻ no không. Họ thấy trẻ cứ ăn hoài, xin thêm đồ ăn mà không hệ nhận ra bụng đã no. Trẻ ăn cho đến khi mệt nhoài, và rồi phải được bế lên giường vì quá no, quá mệt mà không đi được. Một lần nữa, đây lại là một trường hợp cực đoan, cho thấy một đặc điểm ở trẻ béo phì, tuy không phải lúc nào cũng nghiêm trọng như trên, nhưng phổ biến, là không biết khi nào đã no và khi nào cần ngừng ăn.

Chương 8 - Khi trẻ ăn quá nhiều - Bé Yêu Học Ăn

III. Cảm giác đói từ tâm tưởng


Khi căng thẳng, giận dữ, trẻ béo phì có thể dịu đi được nhờ ăn uống. Khi còn nhỏ, chúng muốn có bình sữa để tự dỗ mình. Lúc lớn hơn, chúng thích nước ngọt để làm dịu cảm xúc. Chúng cũng học ăn (đặc biệt là bim bim) để xua đi những cảm giác khó chịu, và khóc lóc mỗi khi bị giữ đồ ăn lại. Điều này đã được các tài liệu mô tả, gọi là ăn do cảm xúc. Jackie được 2 tuổi khi cha mẹ mang bé đi khám vì béo phì trầm trọng, chuyên dùng thức ăn để tự dỗ mình.

Từ phía sau lớp kính một chiều (người bị quan sát không thấy được người quan sát mình, như trong các phòng thẩm vấn - ND) tôi đã quan sát bé ngồi chơi với mình. Bé rõ ràng là thích thú có được khoảng thời gian đặc biệt này bên mẹ. Bé rất vui vẻ cho đến khi tôi bước vào phòng, bảo hai mẹ con phải ngừng chơi vì tôi cần nói chuyện một chút với bà mẹ. "Con đói", bé đáp, và khi tôi bảo bé vừa ăn trưa rồi, bé òa ra khóc rất to và không cách nào dừng được.

IV. Chúng ta học được gì từ những nghiên cứu


Vì phụ huynh thường nhận ra những khác biệt trong lối ăn uống của các con mình, ngay từ khi chúng còn nhỏ, họ thường thắc mắc hành vi này có bao nhiêu phần là di truyền ? Những nghiên cứu về trẻ sinh đôi và con nuôi lúc nhỏ của Stunkard và cộng sự (1986) đã ghi nhận tới 80% về khác biệt tích mỡ cơ thể, là gắn với các yếu tố về gien. Tôi sẽ điểm thêm vài nghiên cứu mới đây, đã làm sáng tỏ về ba đặc điểm ăn uống, là những đặc điểm có tính di truyền rất lớn và gắn với béo phì.

01. Trẻ béo phì ăn với tốc độ nhanh hơn

Liewellyn và cộng sự (2008) tường trình rằng, khi quan sát trẻ ở cân nặng khác nhau, trong suốt bữa ăn họ thấy tốc độ ăn tỉ lệ với cân nặng của trẻ. Trẻ quá cân và béo phì có tốc độ ăn nhanh nhất, sau đó là trẻ có cân nặng bình thường ở mức cao, ăn chậm nhất là trẻ có cân nặng bình thường ở mức thấp. Theo kinh nghiệm của tôi, cha mẹ những trẻ quá cân thường than rằng con cái họ cứ "nuốt trọng đồ ăn", trong khi cha mẹ những trẻ nhẹ cân thì than ngược lại. Những trẻ này ăn quá chậm, đến nỗi bữa ăn phải mất đến một tiếng hay hơn.

Chương 8 - Khi trẻ ăn quá nhiều - Bé Yêu Học Ăn

02. Trẻ béo phí đáp ứng hơn với vẻ ngoài của thức ăn

Hill và cộng sự (2008) từng mô tả rằng trẻ béo phì khác nhau trong việc đáp ứng với vẻ ngoài của thức ăn. Chúng có khuynh hướng ăn khi không đói, chỉ vì đụng mặt thức ăn ngon. Như tôi đã nói ở trên, loại cảm giác đói ở miệng, dường như đã lôi kéo những trẻ này muốn ăn thức ăn ngon, bất kể các cháu có đang đói hay không ?

03. Trẻ béo phì kém nhận ra cảm giác no

Wardle và Carnell (2009) đã chỉ ra rằng, trẻ cân nặng khác nhau có đáp ứng khác nhau với việc khi nào thì cảm thấy no và dừng ăn. Khi đo vòng bụng của một số lượng lớn mẫu các trẻ, rồi so sánh với đáp ứng no của trẻ, hai nhà nghiên cứu thấy vòng bụng càng to thì nhận biết cảm giác no càng kém, cũng như sự thích thú thức căn của trẻ càng cao. Một nghiên cứu khác của Jansens và cộng sự (2003) quan sát thấy khi cho ăn vặt trước bữa ăn chính, trẻ có cân nặng bình thường sẽ điều chỉnh lượng ăn vào và ăn ít hơn ở bữa ăn chính ngay sau đó, trong khi trẻ béo phì vẫn ăn hết sức, và nếu thấy thức ăn ngon thì thậm chí còn ăn nhiều hơn. Việc kém nhận biết no này, ở phần trên tôi đã gọi là "cảm giác đói ở bụng". Những trẻ này dường như thích thức ăn đến mức không nhận ra hi nào thì no, khi nào cần ngừng ăn. Cũng khó mà biết được liệu những tín hiệu về no của các bé này vốn đã yếu, hay là cảm giác đói ở miệng đã che lấp những tín hiệu về no, hay là kết hợp cả hai.

Bên cạnh ba đặc điểm di truyền này, trẻ béo phì còn mắc chứng ăn uống do cảm xúc. Nghiên cứu trước khi của Braet và Van Strien (1997) đã chỉ ra, những trẻ béo phì hay ăn do cảm xúc. Liên quan với cảm giác tiêu cực về năng lực thể chất. Như tôi đã minh họa ở trước, trong mục "cảm giác đói từ tâm tưởng" ngay từ bé tí, trẻ béo phì đã dùng việc ăn uống để an lòng, học cách dựa vào ăn uống để điều hòa cảm xúc.

Chương 8 - Khi trẻ ăn quá nhiều - Bé Yêu Học Ăn

*** Trường hợp của Jackie : một trẻ có đủ mọi hành vi trên. Vào lúc lên 2, Jackie được cha mẹ đưa đi khám vì béo phì nặng. Jackie và mẹ cùng ăn với nhau, và trong lúc cùng mẹ trò chuyện, bé ăn với tố độ bình thường. Tuy nhiên, cuối bữa ăn, khi cha bước vào, và cha mẹ nói chuyện với nhau, nhịp đô ăn của bé tăng tốc thấy rõ. Trước đó, cha Jackie có nói với tôi rằng ông muốn lấy một ít đồ ăn sau khi Jackie và mẹ đã ăn xong, vì ông muốn tới thấy Jackie phản ứng với việc ông lấy đồ ăn ra sao.

Khi cha đã ra khỏi phòng, Jackie quay lại bi bô tiếp với mẹ. Tốc độ ăn của bé cũng chậm lại, và khi mẹ bé kết thúc bữa ăn, nói rằng đã no bụng rồi, sau vài phút Jackie cũng vét sạch đĩa và nói bé cũng đã xong. Tuy nhiên, khi ông cha quay lại và ngồi xuống ăn, Jackie ngay lập tức xin cha cho mình một ít. Khi ông cha nói, bé đã ăn xong bữa rồi, và đây là thức ăn của cha, Jackie vẫn nài nỉ, và khi cha vẫn cương quyết, thì bé òa ra khóc.

Câu chuyện của Jackie minh chứng, khi nhìn thấy thức ăn ngon, bé không có cảm giác no từ bên trong, chỉ tha thiết muốn ăn thêm, mặc cho trước đó vừa mới ăn một bữa hoành tráng. Thêm vào đó, Jackie biết rằng ăn giúp bé giải quyết các cảm xúc tiêu cực, như giận dữ, bực bội, không được quan tâm (khi cha mẹ nói chuyện với nhau), và nếu bị từ chối không được cho thức ăn, bé trở nên cực kỳ giận dữ, khó tự bình tĩnh được.

Những nghiên cứu ở phần trước đã khẳng định các quan sát, rằng trẻ béo phì ăn với tốc độ nhanh hơn, đáp ứng hơn với vẻ ngoài của thực phẩm, kém nhận biết hơn khi nào thì no, và khi nào cần ngừng ăn. Từng đặc điểm này được đem ra đánh giá về độ liên quan tới các yếu tố di tuyền (thay đổi từ 60% đến 70%) và độ liên quan tới các yếu tố môi trường (được cho từ 30% đến 40%). Biết được trong việc ăn nhiều của con mình có sự đóng góp đáng kể của yếu tố môi trường, sẽ cho cha mẹ lên tinh thần, rằng có thể giúp con mình phát triển những thói quen ăn uống tốt hơn.

Chương 8 - Khi trẻ ăn quá nhiều - Bé Yêu Học Ăn

V. Cách cha mẹ giúp con điều hòa ăn uống từ bên trong


Như đã nói trong chương 2, khi sử dụng các hướng dẫn cho ăn, cha mẹ sẽ làm cho việc điều hòa ăn uống từ bên trong của trẻ thành dễ dàng hơn. Với trẻ nào thì những hướng dẫn này cũng có ích. Tuy nhiên, chúng đặc biệt quan trọng với những bé ăn quá ít hay ăn quá nhiều. Tôi sẽ trình bày sơ lược vì sao những hướng dẫn cho ăn này, lại quan trọng thế ở những trẻ ăn quá nhiều.

01. Học cách phân biệt giữa đói và no

Có giờ ăn chính và ăn vặt điều độ, cách nhau ít nhất là ba, bốn tiếng, và không được ăn hay uống gì giữa các bữa ăn, trừ nước lọc. Với một gia đình trung bình, bữa sáng có thể vào khoảng 7h hay 8h sáng, bữa trưa khoảng 12h và bữa xế khoảng 15h và bữa tối khoảng 18h30 hay 19h. Trước khi áp dụng các hướng dẫn cho ăn, cha mẹ cần giải thích kỹ cho con, để các bé biết cái gì sẽ xãy ra, cần chuẩn bị tinh thần là sẽ không có bim bim giữa các bữa chính và bữa xế.

Nếu trẻ phản đối và đòi ăn vào những giờ khác, báo với các trẻ là phải đợi đến bữa sau, hoặc bữa xế mới có. Khi chỉ cho phép ăn vào những bữa chính và bữa xế, trẻ sẽ bắt đầu có cảm giác đói, và các trẻ sẽ học cách phân biệt với cảm giác no ở cuối mỗi buổi ăn. Các trẻ cũng sẽ học được là người ta chỉ ăn khi "có cảm giác đói ở bụng" chứ không phải vì thấy có thức ăn ngon lành. Trẻ cần nhận được thông điệp rõ ràng là chỉ được ăn trong bữa chính và bữa xế, ngoài ra không được ăn linh tinh.

Chương 8 - Khi trẻ ăn quá nhiều - Bé Yêu Học Ăn

02. Để nhận ra được cảm giác no và giảm tốc độ ăn

Múc từng ít một và cho trẻ được múc thêm nhiều lần, cho tới khi nhận ra đã no. Cha mẹ không được hạn chế trẻ trong bữa ăn, mà cho phép trẻ ăn từng ít một cho tới khi các trẻ nhận ra dạ dày đã no. Múc từng phần nhỏ, và cho được múc thêm hai, ba, bốn lần sẽ giúp trẻ ăn chậm lại. Đây là quá trình để trẻ học và có thể mất một thời gian, mặc dù cũng có một số trẻ, như Jackie có thể chỉ cần vài ngày, là học được khi nào thì no, và khi nào cần dừng ăn lạiTrước khi lấy thêm thức ăn cho trẻ, cha mẹ nên hỏi "Bụng con còn đói hay đã thấy no rồi ?" Hỏi thế để giúp trẻ hướng chú ý vào dạ dày, kiểm tra xem cảm giác ở đó ra sao. Cha mẹ cũng nên bình luận về cảm giác đói, no của chính mình và thay vì nói "Cha/mẹ ăn xong rồi", họ nên tập làm mẫu cho trẻ mà nói "Cha/mẹ no rồi". Ngôn ngữ này sẽ tập cho trẻ nhận thức rõ hơn về cảm giác đói và no.

03. Học ăn thức ăn ngon từng ít một

Không dùng đồ ăn vặt và đồ ngọt riêng ra để dụ dỗ trẻ, mà thỉnh thoảng cho những món này, thành một phần của bữa ăn bình thường, cho phép trẻ muốn ăn trước nếu trẻ thích. Đây là thử thách lớn nhất cho trẻ và cha mẹ. Béo phì đã tăng lên không chỉ ở những nước phương Tây mà cả ở Châu Á, do ngày càng sẵn những thức ăn vặt ngon lành, đồ ăn chế biến sẵn, thực phẩm giàu đường và mỡ, bánh kẹo ngọt, ...

Cha mẹ cho con bánh kẹo như một cách thể hiện tình yêu thương, chăm sóc, hay phần thưởng, và niềm vui sướng đối với trẻ con thường là một cuộc đi ăn kem hay ăn McDonald's. Trẻ con cũng hay được dặn, phải ăn thức ăn lành mạnh trước rồi mới ăn tráng miệng ngọt sau. Tất cả những thói quen này, đã trở thành một phần của văn hóa, đến nỗi cha mẹ không ý thức được cái thông điệp mà họ trao cho đứa trẻ khi làm thế, và vì sao có quá nhiều trẻ nghiền đồ ngọt.

Từ khi còn rất bé, trẻ con đã biết hình thành mối liên hệ mạnh mẽ giữa thực phẩm chúng ăn với những trải nghiệm về cảm xúc. Cho trẻ bánh kẹo để thể hiện tình cảm của chúng ta là khiến đồ ngọt càng ngọt hơn, và giữ món tráng miệng lại cho tới khi trẻ đã ăn xong thức ăn lành mạnh, là đã hạ giá của thức ăn lành mạnh trong nhận thức của trẻ, nâng món tráng miệng chỉ được coi như bất kỳ món nào khác trong bữa ăn, trẻ sẽ không đánh giá quá cao món tráng miệng nữa, và học được cách ăn đồ tráng miệng ngọt một cách điều độ.

Câu chuyện yêu thích của tôi (mà tôi từng kể ở chương 2) là ai đứa cả ngày nài mẹ cho ăn M&M tới mức người mẹ không chịu được nữa. Mẹ càng lờ đi, giữ lại không cho chúng kẹo, chúng càng lẵng nhẵng và càng mê kẹo M&M hơn. Khi tôi đề nghị bà ẹ cho chúng vài viên M&M mỗi bữa ăn, bà rất nghi ngờ, nhưng cuối cùng đồng ý thử. Vào mỗi bữa, bà đặt ba viên M&M đã trở thành một món hệt như các món khác đối với các trẻ, và kẹo mất hẳn tính chất đặc biệt.

Chương 8 - Khi trẻ ăn quá nhiều - Bé Yêu Học Ăn

Tôi tin rằng, trẻ em trong nền văn hóa này cần được tiếp xúc với đồ ngọt và thực phẩm kém lành mạnh, cái gọi là quà vặt, để học cách ăn chúng mà không thèm khát chúng. Việc này có thể làm được bằng cách thỉnh thoảng mới có món tráng miệng, không phải là mỗi ngày, cũng không phải mỗi bữa ăn. Một số gia đình thấy rất hiệu quả nếu trong tuần có những ngày có tráng miệng, thí dụ thứ Ba, thứ Năm, và Chủ Nhật. Việc này đặc biệt có ích đối với những trẻ, quen với việc sau bữa ăn nào cũng có tráng miệng. Bên cạnh đó, cha mẹ cần giới hạn lượng tráng miệng cho con ăn. Nếu bé đòi thêm, cha mẹ có thể nói "Bữa nay chúng ta chỉ có thế, bữa khác con sẽ có tráng miệng nữa".

Như tôi đã nói ở trước, cha mẹ nên cho phép con ăn tráng miệng theo thứ tự nào chúng thích, trước hay sau bữa ăn đều được. Với cách này, trẻ sẽ tự quyết lúc nào thì ăn, và món tráng miệng sẽ không được dùng như một phần thưởng do đã ăn những thức ăn lành mạnh khác. Rất thú vị là một số cha mẹ kể tôi nghe, thoạt nhiên bọn trẻ muốn ăn tráng miệng trước, nhưng sau một thời gian, chúng nhận ra việc đó cha mẹ chẵng bận tâm, thế là quyết định để món tráng miệng ăn sau. Những gợi ý này, có ích với mọi đứa trẻ, nhưng càng quan trọng hơn, với những trẻ cứ thấy thức ăn ngon là muốn ăn, và thích thú ăn tới mức không nhận ra mình đã no.

04. Học tự dỗ mà không cần sự giúp đỡ của thức ăn

Trong tuổi tập đi, trẻ cần học cách điều hòa ăn, ngủ và cảm xúc. Đây là tuổi mà trẻ sẽ dễ dàng nổi cơn tam bành khi mọi việc không như ý. Đây cũng là tuổi mà cha mẹ cần dạy cho con rằng một số hành vie là không chấp nhận. Tùy theo tính nết từng trẻ, tuổi này có thể là một giai đoạn vô cùng thách thức. Nhiều trẻ chỉ cần cha mẹ nghiêm giọng, thí dụ "đừng làm thế" là đã biết dừng ngay một hành động hư hỏng. Tuy nhiên, có những trẻ khác lại thử xem giới hạn đến đâu, thậm chí sau nhiều lần cảnh cáo vẫn dám nhìn thẳng vào mắt cha mẹ và tiếp tục làm cái điều chúng thích.

Như tôi đã giải thích trong chương 3 - "Vị sếp hai tuổi trong nhà", một số trẻ vượt giới hạn và muốn kiểm soát cha mẹ. Điều mà cha mẹ và trẻ học được trong giai đoạn phát triển thường lắm bão tố này là bú sữa bình, hay ăn ít bim bim có thể làm dịu đi cơn giận, và giữ cho trẻ được yên. Điều này, đặc biệt hiệu quả ở những trẻ thích ăn, hay uống. Chúng biết rằng khi được bú bình hay ăn, chúng sẽ bình tĩnh. Tôi đã thấy nhiều cha mẹ luôn mang theo bình sữa và bim bim để giữ cho con ngồi được yên lúc chúng chán hay chúng quậy, khi đi du lịch, lúc vào cửa hàng, hay đi khám bệnh. Tuy nhiên, chính từ đó trẻ con học cách ăn vì cảm xúc, để đối phó với "cảm giác đói từ tâm tưởng".

Những năm đầu đời này rất quan trọng, để giúp trẻ phân biệt được giữa "cảm giác đói ở bụng" với những nhu cầu về tình cảm. Cha mẹ cần cho trẻ ăn vào đúng bữa, khi chúng đói chứ không nên cho trẻ bình sữa hoặc thức ăn vào những lúc khác, khi trẻ đòi chỉ để xoa dịu cảm xúc. Trẻ có thể sẽ khổ sở và nổi cơn tam bành khi cha mẹ không nhượng bộ, nhưng các bé rất cần học cách tự dỗ mình mà khong cần thức ăn.

Ở chương 3, tôi đã giải thích chi tiết chi tiết cách thức cha mẹ có thể dùng thời gian một mình, để dạy trẻ chấp nhận giới hạn và tự dỗ mình. Bài học này với trẻ nào cũng là quan trọng, nhưng quan trọng nhất là với những trẻ thích cách làm dịu lòng bằng bú bình hay ăn. Một khi trẻ đã quen dựa vào lối ăn uống theo cảm xúc, sẽ rất khó để bứt chúng ra khỏi thói quen này, như tôi sẽ giải thích trong việc điều trị của Anna.

Chương 8 - Khi trẻ ăn quá nhiều - Bé Yêu Học Ăn

05. Học xem tivi hay đi coi phim mà không ăn

Tốt nhất là không để hình thành những thói quen ăn uống không tốt khi trẻ còn nhỏ, vì càng lớn sẽ càng khó thay đổi. Kết hợp ăn với xem tivi lâu nay đã trở thành thú tiêu khiển rất phổ biến trong xã hội Mỹ. Có vẻ như ai cũng làm việc ấy, và có vẻ như không ai thắc mắc liệu thế có nên không. Bắp nổ và coi phim đã gắn chặt với nhau đến nỗi, trẻ con cho rằng phải có bắp nổ hay bim bim thì mới gọi là thưởng thức bộ phim được trọn vẹn. Cái mà cha mẹ cần biết là khi trẻ vừa ăn vừa xem một bộ phim lý thú, chúng sẽ không để ý mình đã no hay chưa. Trẻ vốn ít thèm ăn, có thể sẽ quên béng món bắp nổ trong lúc mải coi phim. Tuy nhiên, trẻ thích các món ngon sẽ ăn bất kẻ đói hay không, cho tới khi hoặc là thức ăn hết, hoặc là hết phim.

VI. Làm sao để có hiệu quả


Tôi sẽ bàn ở đây kiểu ăn, và hành vi ăn của ba trẻ nhỏ có các mức độ béo phì khác nhau, và cha mẹ các cháu đã đáp lại những gợi ý của chúng tôi ra sao.

*** Trường hợp của Mark : tiền sử của bé cho thấy tình trạng bệnh của bé có liên quan chặt chẽ với gen và môi trường, với cả hai cha mẹ đều quá cân và từng có những phản ứng bất đồng trước sự xuất hiện béo phì sớm của con. Thí dụ này là về cha mẹ không thể thực hiện, những hướng dẫn cho ăn. Mark được 4 tuổi khi mẹ mang bé đến khám vì tăng cân quá nhanh. Người mẹ rất lo vì Mark quá nặng, đến nỗi chạy không nổi, bị bọn con nít trêu chọc suốt, đến nỗi cứ ai chòng ghẹo là bé nổi máu hung hăng. Mẹ Mark cho biết cả đời cô đã phải vật lộn với cân nặng, và cô không muốn con trai mình cũng mất cả đời phải chiến đấu với béo phì. Cô thú nhận rằng chồng cô cũng quá cân, nhưng anh không lo lắng về việc đó, và không muốn đứa con đi bác sĩ với cô, vì anh thấy Mark có là bé bự thì cũng có sao đâu.

Người mẹ kể với tôi, Mark sinh ra đã to con, nặng 4,3 ký, ngay từ đầu đã háu ăn, và sau 6 tháng cân nặng đã tăng gấp ba, trong khi hầu hết bé trẻ khác đến 1 tuổi cũng chưa được thế. Khi tập ăn đặc, bé ăn tốt và cho bao nhiêu cũng hết. Bé thích thú bình, không thể nào đi ngủ mà không bú một bình. Vào tuổi tập đi, Mark bắt đầu cọc tính, nhưng dễ dàng dịu đi khi được cho bình sữa. Bé thật sự gắn chặt với cái bình cho đến tận 3 tuổi, và vào mẫu giáo tuy nhiên mãi đến 4 tuổi, bé vẫn bú bình khi đi ngủ.

Người mẹ tiết lộ, cả cô và chồng cô đều thích ăn vặt, và đều không có những bữa ăn điều độ. Trừ trường mẫu giáo về, Mark thích ngồi trước tivi và ăn bim bim trong lúc xem những phim bé thích. Mẹ Mark giải thích với tôi rằng cô vẫn thường thử ăn kiêng, thỉnh thoảng lại bỏ bữa, nhưng cũng hay nấu bữa tối cho chồng con. Người mẹ cảm thấy tốt hơn nếu không cho Mark ăn bim bim như vậy, nhưng nếu mẹ cố gắng giữ lại món bim bim, Mark sẽ hoạch họe và nổi giận tới mức mẹ phải nhượng bộ. Đánh giá hành vi ăn uống của Mark cho thấy bé ăn với tốc độ nhanh, đặc biệt với những món bé thích.


Bé không thể thấy bim bim mà không đòi ăn. Bé kém nhận thức về cảm giác no và muốn ăn thường xuyên. Bé ăn uống là vì thích và để tự dỗ mình. Tôi đã vạch ra những hướng dẫn nuôi ăn cho mẹ Mark, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cả hai cha mẹ cùng đồng lòng để điều trị đạt hiệu quả. Mẹ Mark rất lo lắng cho con, nói với tôi rằng cô sẽ thuyết phục chồng để cùng cô thực hiện việc này. Cô bảo sẽ gọi cho tôi khi cả hai sẵn sàng đến gặp. Sau hai tháng, không nghe tin tức gì, tôi điện thoại và mẹ Mark nói cô vẫn đang làm việc với chồng. Tôi không nghe nói gì về gia đình Mark từ đó nữa, và tự hỏi không biết điều gì sẽ xãy ra khi Mark lớn hơn ?


*** Trường hợp của Katrina : câu chuyện của bé này minh họa cho tình trạng bệnh về di truyền, trong chứng ăn quá nhiều, cho cuộc đấu tranh của bố mẹ trong kiểm soát việc ăn và cân nặng của con, và sự thành công của cha mẹ trong áp dụng các hướng dẫn cho ăn. Katrina 3 tuổi khi được cha mẹ mang tới khám. Họ lo bé sẽ thành béo phì, nếu họ không kiểm soát được hành vi ăn của bé. Lúc tới khám, Katrina đã ít nhiều quá cân, nhưng cũng còn có thể coi là một bé bụ bẫm, sẽ không làm cho người lớn phải lo âu nếu không biết tiền sử ăn uống của bé.

Cha mẹ Katrina đều thuộc loại cân nặng bình thường, nhưng ông nội thì béo phì. Cha mẹ Katrina sợ bé sẽ không giống như ông nội. Ngay khi còn là nhũ nhi, bé đã uống một hơi 180 ml sữa mà không thấy no, thường khóc khi bữa ăn kết thúc, và cha mẹ thường phải nhượng bộ, tăng thêm 120 ml sữa (tức 300 ml sữa/mỗi bữa). Katrina tăng cân nhanh, mới năm đầu đã cao và bụ bẫm. Đến lúc học cách tự ăn, Katrina thích ăn nhiều món và luôn luôn đòi ăn cái gì mà bé thấy cả nhà đang ăn. Bé ăn nhanh và thường chén hết sạch phần của mình, trong lúc cha mẹ và anh trai vẫn còn.

Chưa biết nói, bé đã biết ra hiệu muốn ăn nữa, và chẵng bao lâu sau nữa, đã trở thành một trong những từ đầu tiên và ưa thích của bé Katrina là một cô bé vui vẻ, háo hức được ngồi vào bàn ăn, và thường là người cuối cùng rời bàn. Thấy tình trạng ham ăn, và tăng cân nhanh của Katrina, cha mẹ bắt đầu hạn chế phần ăn của bé để chậm tăng cân lại. Tuy nhiên, khi đã có thể tự làm nhiều việc một mình, bé thường chui vào tủ lạnh và tự ăn. Khi bị cha mẹ ngăn lại, bé nổi cơn tam bành và thường khóc một lúc lâu.

Cha mẹ cảm thấy không thể để bất kỳ thức ăn nào ra ngoài, mà ngay có giấu các món ăn vặt đi, Katrina dường như vẫn đánh hơi ra. Cha mẹ đành phải lén ăn vặt, vì nếu biết bé sẽ nài xin, và họ lo rằng nếu cho ăn vặt, bé sẽ còn bự hơn nữa. Tuy là một em bé đáng yêu và sáng láng, nhưng sự thèm khát thức ăn của Katrina đã đưa cả gia đình vào một sự căng thẳng khủng khiếp. Cha mẹ thì bất đồng với nhau, và với bà nội trong việc quản lý hành vi ăn của Katrina, và càng cố kiểm soát việc ăn cửa bé, bé càng muốn ăn.

Mặc dầu, Katrina chỉ hơi quá cân, cha mẹ bé rất rối trí vì bé ăn quá nhanh, quá thèm thức ăn ngon, bé có thể ăn cho tới chừng nào còn đồ ăn mà không nhận ra là đã no. Tuy nhiên, bà nội Katrina sống cùng nhà, và tham gia chăm sóc bé, lại không thấy lo trước lối ăn cũng như cân nặng của bé, thế là phải mất một thời gian cha mẹ Katrina mới thuyết phục được bà là cần phải cậy nhờ chuyên môn. Cha mẹ rất khổ tâm, vì phải ăn lén để Katrina khỏi thấy, và họ nôn nóng muốn có được lời khuyên làm cách nào để điều khiển được việc săn lùng đồ ăn của Katrina. Sau cuộc đánh giá, cả cha mẹ lẫn ông bà của Katrina cùng đến để xem xét kỹ phần những hướng dẫn cho ăn.

Mọi người đều đồng ý là gia đình sẽ phải có những bữa ăn chính đều đặn, và một bữa xế với Katrina, giữa những bữa ăn này, sẽ không có ăn uống gì thêm, ngoại trừ nước. Vài lần một tuần, gia đình sẽ có món tráng miệng hay đồ ngọt cho bữa tối, và Katrina sẽ được một phần nhỏ thôi, mà muốn ăn lúc nào trong bữa thì ăn. Nếu bé xin thêm, mọi người sẽ nói với bé là lần sau mới có. Trong bữa, Katrina sẽ được ăn từng phần nhỏ một, bé sẽ được múc nhiều lần cho tới khi bé nói rằng bé đã no, không muốn ăn nữa. Chúng tôi cũng bàn về phương pháp thời gian một mình, và cha mẹ sẽ giải thích với Katrina về quy định cho ăn mới, gồm cả phương pháp này, trước khi đưa vào áp dụng.

Ba tuần sau, cả gia đình quay lại để kiểm tra. Tất cả đều thấy nhẹ lòng, vì họ không phải ăn lén hay giấu đồ ăn với Katrina nữa, và giờ đã có những luật lệ rõ ràng mà mọi người đều hiểu. Trong tuần đầu tiên, Katrina bộc lộ những khó khăn trong việc nhận ra khi nào mình no, bé cứ xin ăn thêm mãi sau khi mọi người đã kết thúc bữa ăn. Cả nhà quan sát thấy, khi thích món nào, và nếu đó lại là món ngọt, Katrina sẽ ăn mãi có khi xin thêm năm, sáu lần, rồi cuối cùng mới ra hiệu là bụng đã no. Trong khi đó, nếu ăn rau, bé sẽ no nhanh hơn. Do đó, cha mẹ dọn cho bé những món ưa thích vào đầu bữa, mỗi lần múc thêm lại một ít rau, món có vẻ làm cho bé ăn chậm lại và giúp vé cảm thấy no.

Lần đầu tiên, chỉ được cho có một phần ít ỏi bánh ngọt, Katrina đòi thêm và khi cha mẹ nói rằng hôm nay chỉ có thế thôi, lần sau sẽ có thêm, bé lăn ra khóc thét và đòi ăn thêm nữa. Cha mẹ nói bé thôi khóc, nhưng Katrina cứ thế la hét và cuối cùng phải dùng thời gian một mình. Bé khóc thét gần như suốt một tiếng đồng hồ sau đó, cho tới khi cuối cùng tự nín được. Cha mẹ đã khen ngợi vì bé tự nín, mang bé trở lại bàn để ăn nốt nữa ăn mà không có thêm miếng bánh ngọt nào. Katrina ngồi yên lặng và ăn thêm hai phần ăn nhỏ nữa, cho tới khi tuyên bố rằng đã no bụng. Sau biến cố ấy, Katrina có thử thêm một lần đòi xin bánh quy, nhưng sau đó đã chấp nhận câu trả lời không của cha mẹ mà không hề phản đối.

Gia đình, kể cả bà nội cũng thấy tình trạng của Katrina và bé gặp khó khăn ra sao trong việc chống lại sự cám dỗ của thức ăn ngon, đặc biệt là bánh kem và bánh qui giòn. Họ đã thấy Katrina bị niềm vui thức ăn cuốn đi ra sao, đến nỗi bé không nhận ra khi nào bụng no và khi nào phải dừng ăn. Tuy nhiên, họ đầy hy vọng, theo thời gian Katrina sẽ khá hơn, và cả gia đình cùng cam kết sẽ tiếp tục áp dụng những hướng dẫn cho ăn. Hai tháng sau, tôi gặp Katrina và gia đình một lần nữa. Katrina đã lớn và có vẻ thanh mảnh hơn một chút. Quan sát mọi người trong một bữa ăn trưa, tôi thấy Katrina khá hạnh phúc, chuyện trò vui vẻ, hỏi mọi người đang ăn cái gì thế, món nào mọi người thích nhất.

Bé được múc ba phần thức ăn nhỏ, với mỗi phần đều thêm một ít rau, như thế có vẻ giúp bé ăn chậm lại và nhận ra khi nào thì no. Cha mẹ Katrina cho biết, hiện giờ cách ăn của Katrina là như thế, và bé vẫn còn rất thích đồ ăn, nhưng đã chấp nhận giữa các bữa ăn sẽ không ăn thêm cái gì hết, và với một số bữa ăn (không phải là tất cả), bé sẽ được cho một số lượng hạn chế đồ ngọt. Thường Katrina sẽ ăn đồ ngọt trước, nhưng cũng biết là sau đó sẽ không có thêm. Bé thực sự lột xác kể từ khi cả nhà áp dụng biện pháp thời gian một mình, và bé học cách tự bình tĩnh khi không được chú ý. Mọi người đều cảm thấy cuộc sống của toàn thể gia đình đã cải thiện rất nhiều, và giờ đây họ đã có thể cùng nhau thưởng thức những bữa ăn.

*** Trường hợp của Anna : là một trong những bệnh nhi đầu tiên của tôi với chứng béo phì trầm trọng. Bé quá cân đến mức run rẩy môi khi đi bộ. Tôi từng mô tả trường hợp của Anna trong một tài liệu nghiên cứu hồi 2007, do tôi đã được truyền cảm hứng rất nhiều từ cách thức cha mẹ Anna theo đuổi những lời khuyên của tôi, và cách Anna đáp ứng với điều trị. Sau khi đã trải qua một cuộc khám, và chẩn đoán thấu đáo, cho thấy không có nguyên nhân nào từ nội tạng khiến cho Anna ăn uống vô độ, và béo phì trầm trọng, cha mẹ bé nóng lòng tìm cách giữ cho bé không đi phải lối mòn của ông cậu, để khỏi phải chịu đựng những hệ lụy của béo phì.

Mặc dầu mới 2 tuổi, Anna đặc biệt sáng láng và còn biết đối thoại. Cha mẹ bé và tôi đều cảm thấy, về mặt nhận thức, Anna đặc biệt sáng láng và còn biết đối thoại. Cha mẹ bé và tôi đều cảm thấy, về mặt nhận thức, Anna hoàn toàn có thể hiểu được những hướng dẫn cho ăn. Sau khi tôi giải thích thấu đáo về các hướng dẫn nuôi ăn cho cha mẹ Anna, đến lượt họ sẽ giải thích cho bé tại nhà, và từ đây trở đi, cả nhà sẽ cùng nhau ăn sáng, ăn trưa, ăn xế, và ăn tối, không còn chuyện ăn vào các giờ linh tinh. Nếu khát, Anna sẽ được uống nước. Vào bữa, bé được múc từng ít một, có thể được múc hai, ba, ... đến nhiều lần, cho đến khi thấy no bụng. Nếu Anna không chịu nghe và khóc lóc vì muốn ăn ngoài lịch ăn, hoặc nếu bé hư theo cách khác, bé sẽ có thời gian ở một mình, để biết tự bình tĩnh.

Biện pháp thời gian một mình, phải được giải thích cho Anna khi bé bình tĩnh, trước khi áp dụng. Hai tuần sau, tôi thực hiện kiểm tra với cả nhà và cha mẹ Anna rất hài lòng với tiến triển mà họ đạt được. Trong ngày đầu, bé đòi nước hoa quả với bim bim, và khi biết là sẽ chỉ được uống nước lọc, Anna đã khóc toáng lên, và đã có thời gian một mình đầu tiên. Trong chỗ thực hiện thời gian một mình, bé khóc hơn một tiếng đồng hồ, cho tới khi cuối cùng cũng tự nín. Sau đó, Anna không nài bim bim nữa. Tuy nhiên bé chuyển sự sống đổi sang la hét mỗi khi được thay tả, và không chịu nắm tay mẹ khi sang đường.

Anna cũng đã thử cha mẹ khi lần đầu được cho ăn theo kiểu múc mỗi lần một ít. Trong những ngày đầu, bé đòi múc lần ba, lần bốn, nhưng sau vài ngày, bé dừng lại chỉ sau hai lần múc thêm, đôi khi chỉ cần thêm một lần là đã no. Cha mẹ rất vui vì bé đã biết nhận ra cảm giác no, lại không đòi ăn gì ngoài những bữa chính và bữa xế. Tôi cũng động viên cha mẹ cứ dùng biện pháp thời gian một mình, nếu Anna có những hành vi bất thường khác. Một tháng sau, trong một cuộc kiểm tra qua điện thoại, cha mẹ Anna tả lại mọi việc tiến triển tốt ra sao, rằng Anna từ ba cằm, xuống còn hai cằm, rằng bé hoàn toàn vui vẻ với những quy định mới quanh việc ăn. Có vẻ như bé đã rõ được khi nào thì no, và thường mỗi bữa chỉ múc có hai lần.

Tuy nhiên, một năm sau tôi nhận được một cuộc gọi điện thoại từ cha của Anna, nói rằng mặc dù việc ăn của Anna diễn ra tốt đẹp, cân nặng bé giờ bình thường, nhưng bé sinh cáu kỉnh và khi giận lên rồi thì không tự nín được. Cha mẹ chỉ biết rón rén đi quanh vì sợ làm bé nổi cơn giận, la thét thật là lâu. Người cha kể với tôi họ không thể tiếp cục như thế nữa, và cần tôi giúp làm cách nào kiểm soát tâm tính Anna. Khi đến gặp tôi, Anna đã là một bé gái 3 tuổi rất đáng yêu, có cân nặng bình thường. Bé giao tiếp dễ dàng, và có một khả năng nói tiếng Anh đáng nể, ở tuổi bé. Nhưng khi tôi nói về việc bé hay nổi cáu, Anna bảo sẽ không nói chuyện với tôi và lăn ra sàn, vung chân đập tay, là hét muốn vỡ phổi.

Tôi dẫn mẹ Anna ra khỏi phòng để quan sát bé từ sau một tấm gương một chiều, trong lúc tôi ngồi với Anna và chờ cho đến khi bé nín. Phải mất nửa tiếng Anna mới nằm không nhúc nhích, úp mặt xuống sàn, lâu lâu nấc lên sau chừng đó la thét. Tôi nhẹ nhàng bảo Anna rằng rất khó mà tự nín, thế mà bé đã làm được một mình, và mẹ bé sẽ rất tự hào vì bé, nếu biết bé tự dỗ nín thế này. Khi Anna ngồi dậy và nhìn tôi, trên mặt bé là một vẻ ngạc nhiên, như thế cuối cùng thì mình cũng đã làm được, và bé nôn nóng muốn chúng tôi chia sẻ ngay với mẹ chuyện này. Sau cái giờ bão tố đó, trong văn phòng tôi mẹ Anna cho biết từ hôm đó, có giận thì Anna cũng chỉ khóc vài phút rồi tự bình tĩnh được. Vài năm sau, khi người cha gọi cho tôi, đến lượt nhờ giúp cậu con trai, ông cho biết, Anna giờ đã thành một đứa trẻ dễ chịu.

Như tôi đã nêu trong ba trường hợp trên, những hướng dẫn nuôi ăn chỉ có tác dụng nếu cả hai cha mẹ cùng vào cuộc, cùng có thể điều chỉnh hành vi ăn uống của chính mình để làm mẫu những thói quen ăn uống lành mạnh cho trẻ. Điều này không dễ và thường phải thay đổi lối sống từ chính cha mẹ. Tôi rất cảm phục những cha mẹ có thể thực hiện những thay đổi này để giúp con mình. Mặc dù trước đó, cho bản thân thì họ không sao thay đổi được, nhưng khi cần giúp con, họ có được động lực để thay đổi hành vi ăn của chính mình. Như tôi vẫn luôn nói với các bậc phụ huynh, cái gì tốt cho con thì cũng tốt cho cha mẹ. Tuy lúc đầu, có thể khó mà có được những bữa ăn đều đặn, khó mà không ăn gì nữa giữa những bữa ăn, nhưng một khi thói quen ăn uống mới đã được hình thành, chúng sẽ giúp cấu trúc lại, ổn định lại đời sống gia đình, và điều đó là mang đến an toàn cho con trẻ.



Tác giả : DR. IRENE CHATOOR
Người dịch : Thiên Lương
Up file : Nguyễn Thanh Tâm
Hệ thống website Báo Giá Tour Du Lịch baogiatour.com
Sách Bé Yêu Học Ăn của Dr Irene Chatoor



==============================================
Đăng ký tour du lịch vui lòng liên hệ
Trưởng phòng kinh doanh: Nguyễn Thanh Tâm ( Tâm Pacific )
Hotline: 0911.46.33.89
Tổng đài tư vấn miễn phí: 01283.98.69.98
Website Pacific Travel baogiatour.com
Fanpage www.facebook.com/NguyenThanhTamSearchBox
#tourthailan  #toursingapore  #tourcampuchia  #tourtrongnuoc
==============================================


Chương 8 - Khi trẻ ăn quá nhiều - Bé Yêu Học Ăn

Bạn đang xem một trong các bài viết tại Chuyên Mục be-yeu-hoc-an-dr-irene-chatoor . Và đây là địa chỉ link bài viết http://www.baogiatour.com/2017/07/chuong-8-khi-tre-an-qua-nhieu-be-yeu-hoc-an.html . Ban biên tập BaoGiaTour.com xin cảm ơn bạn đã theo dõi bài viết này. Đừng quên nhấn LIKE Chia Sẻ để ủng hộ ban biên tập BaoGiaTour.com nếu bài viết có ích !

BaoGiaTour.com DMCA Protection Status