báo giá tour thái lan báo giá tour campuchia

Những nghiên cứu giúp hiểu rõ thêm về chứng ác cảm với thức ăn

Nhiều lĩnh vực nghiên cứu đã giúp hé lộ, về những yếu tố góp phần vào sự hình thành việc thích thức ăn này và ghét thức ăn kia. Có thể chia ra thành các yếu tố di truyền và môi trường. Tôi sẽ trình bày một vài nghiên cứu, và mô tả mô hình do tôi nghĩ ra để hiểu về trẻ ACVTA hơn.

Những nghiên cứu giúp hiểu rõ thêm về chứng ác cảm với thức ăn


Những yếu tố di truyền ảnh hưởng về mặt di truyền trên nhận thức về vị, về chất của thức ăn. Các nghiên cứu vào năm 2001 của Bartoshuk và 2003 của Essick cùng cộng sự, tiến hành với các trẻ trước tuổi đi học, trẻ lớn và người trưởng thành, đã cho thấy có mối liên hệ giữa sự nhạy cảm về vị đắng với việc yêu ghét các món ăn, và với số lượng chồi nấm có trên lưỡi. Đây là những núm nhỏ xíu trên mặt lưỡi, gọi là chồi nấm vì dưới kính phóng đại, trông chúng như những cây nấm, bên trong chứa những chồi vị giác. Tùy vào độ nhạy cảm với vị đắng mà người ta được phân loạn thành "siêu nếm" ( supertaster ), nếm ( taster ), và không nếm ( nontaster ). Trẻ thuộc hai nhóm đầu thường ít thích những thức ăn nhiều chất mỡ ( như phô mai Mỹ hay sữa nguyên kem ).

Các nghiên cứu của Miller và Reedy (1990) của Essick và cộng sự (2003) cho thấy người thuộc nhóm siêu nếm có số lượng chồi nấm nhiều nhất - là nhú chứa các chồi vị giác. Họ còn thấy, không những rất nhạy với vị đắng, mà khi được bịt mắt rồi cho viết lên lưỡi những ký tự a, b, c, những người này còn phân biệt chính xác gấp hai lần các nhóm khác. Nghiên cứu này giúp chúng ta hiểu ra, vì sao những người rất nhạy với vị của một số món ăn nào đó, cũng hay nhạy với kết cấu mịn thô của món ăn ( cảm giác mà món ăn đó gây ra trong miệng ).

Những nghiên cứu giúp hiểu rõ thêm về chứng ác cảm với thức ăn


Nhiều nhóm nghiên cứu ( như Duffy và Bartushuk 2000, Bartushuk và cộng sự 2001 ) đã xác định gien cũng ảnh hưởng tới tính nhạy cảm vị giác. Các nghiên cứu về trẻ sinh đôi của Wardle và cộng sự ( Wardle và Cooke 2008; Breen, Plomin, Wardle 2006 ) đã chỉ ra rằng nhận thức về vị giác đối với protein, trái cây, và rau ít nhiều có tính di truyền. Tóm lại, những nghiên cứu được liệt kê trên gợi ý rằng, độ nhạy về vị, về độ mịn thô là có liên quan tới số lượng chồi vị giác trên lưỡi, và ít nhiều có di truyền. Các nghiên cứu còn chỉ ra, những người rất nhạy với chất đắng, và với độ mịn thô của thức ăn, thì thường có nhiều chồi vị giác hơn người kém nhạy.

Tính di truyền của chứng "sợ thức ăn mới"

Trẻ kén ăn có thể vừa từ chối ăn, những thức ăn quen ( thường bị gọi là trẻ kén ăn ), vừa tránh không thử thức ăn mới, gọi chứng "sợ thức ăn mới" ( food nephobia ). Với nhiều trẻ, sự ngại ngần thử những món mới dần dần sẽ biến mất khi chúng lớn lên. Tuy nhiên, với một số trẻ, thử món mới thực sự là một thách thức lớn. Nỗi sợ món mới có thể rất mạnh, thường khiến cha mẹ điên đầu nếu đó là những trẻ cứng rắn, cương quyết không ăn một món nào đấy ( mặc dầu trước đó chưa từng thử qua).

Nghiên cứu của Cooke và cộng sự (2007) tiến hành trên một số lượng lớn mẫu sinh đôi từ 8 đến 11 tuổi, đã ước lượng có tới 78% các trường hợp sự thức ăn mới là di truyền, 22% là do các yếu tố môi trường. Trẻ nhỏ mang gien sợ thức ăn mới có thể cẩn trọng hơn, những trẻ khác trong mọi việc, tính tình thuộc loại "tránh xa rắc rối". Những trẻ này có thể ngày càng hay lo phải chia ly, vì chúng ngày càng dựa vào cha mẹ để có cảm giác an toàn.


Những nghiên cứu giúp hiểu rõ thêm về chứng ác cảm với thức ăn

Những ảnh hưởng của môi trường tới việc thích các món ăn


01. Vai trò của việc tiếp xúc thức ăn với sở thích ăn

Ngày càng nhiều nghiên cứu chứng minh được, ngay cả trước khi sinh, trải nghiệm về vị giác sẽ làm tăng tính chấp nhận thức ăn. Mennella và cộng sự (2001) đã cho thấy, tiếp xúc với các mùi vị trong dịch ối và trong sữa sẽ làm tăng tính chấp nhận các mùi vị này khi bé chuyển sang ăn dặm. Trong các nghiên cứu khác, Galef và Henderson 1972 cũng thấy, trẻ được nuôi bằng sữa mẹ, thông qua sữa mẹ, sẽ trở nên quen thuộc với những vị khác nhau của những món mà mẹ đã ăn, và chúng có vẻ thích những bị đó hơn.

Nghiên cứu của Birch và Marlin (1982) thì cho thấy, với trẻ tuổi tập di, vào lúc được 2 tuổi, nếu cho trẻ nhiều cơ hội nếm các loại trái cây và phô mai khác nhau, độ khoái khẩu của chúng sẽ tăng lên theo số lần tiếp xúc. Thường phải mất 5 đến 10 lần tiếp xúc, với một món mới thấy rõ được sự thích thú. Nghiên cứu cũng cho biết, trong khi số lần nếm và ăn một món mới, giúp gia tăng độ chấp nhận món đó, thì ngửi và nhìn lại chẳng có tác dụng gì. Tuy nhiên, dù các nghiên cứu chỉ ra, tiếp xúc là một khâu rất quan trọng để trẻ thích một món mới, nhưng làm cho trẻ chịu nếm một món mới lại là một vấn đề khác hẳn. Điều này tôi sẽ bàn tới sau.

Những nghiên cứu giúp hiểu rõ thêm về chứng ác cảm với thức ăn


02. Vai trò của phần thưởng trong việc thích một món ăn

Nhiều bố mẹ hay đem phần thưởng ra hứa hẹn để con mình chịu ăn rau hay trái cây. Tuy nhiên, như nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, thường trẻ con vì chịu ăn món gì đấy thực chất chỉ làm trẻ bớt thích món đó. Đặc biệt, Birch và cộng sự (1984) đã cho thấy, khi thưởng cho trẻ trước tuổi đến trường, vì uống một loại nước giải khát, sẽ có một sự thay đổi tiêu cực trong việc thích uống thứ nước ấy, cho dù trẻ được khen bằng lời hay được thưởng một vé xem phim. Trong khi đó, trẻ nhận được cùng thức nước giải khát mà không có phần thưởng nào kèm theo sẽ thích thứ nước này hơn một chút.

Một nghiên cứu gần đây hơn của Wardle và cộng sự (2003) đã so sánh tác dụng của việc tiếp xúc đồ ăn và phần thưởng đối với khả năng chấp nhận một món rau lạ ở trẻ tiểu học. Trẻ trong nhóm tiếp xúc ( với đồ ăn ) sẽ được nếm vị ớt ngọt đỏ, kèm lời dặn muốn ăn bao nhiêu thì ăn. Trẻ trong nhóm có thưởng thì được xem một tập hình hoạt họa, kèm lời hứa nếu ăn ít nhất một miếng ớt ngọt đỏ thì được chọn lấy một tấm hình. Trẻ trong nhóm tiếp xúc rõ ràng thích ăn hơn là trẻ trong nhóm có thưởng. Điều học được từ các nghiên cứu này là tiếp xúc một cách trung tính ( với đồ ăn ) là một công cụ hiệu quả giúp trẻ ăn món mới, trong khi thưởng trẻ vì chịu ăn một món ăn sẽ làm hạn chế tác dụng tích cực của việc tiếp xúc, và thực sự làm trẻ bớt thích ăn món đó.

Những nghiên cứu giúp hiểu rõ thêm về chứng ác cảm với thức ăn


03. Tác dụng của việc cha mẹ và bạn bè "ăn làm mẫu" trong việc yêu thích món ăn

Nhiều nghiên cứu đã chỉ rõ, việc thích món ăn của trẻ sẽ tăng lên nếu chúng có cơ hội quan sát bố mẹ và anh chị ăn món đó. Trẻ ở tuổi tập đi đặc biệt rất quan tâm cha mẹ mình đang ăn cái gì, và thường tóm lấy thức ăn mà chúng thấy có trên đĩa của cha mẹ, trong lúc lại không màng tới thức ăn ( vẫn không khác gì ) có trên đĩa mình. Như Birch (1980) đã cho thấy, với trẻ tuổi mẫu giáo, việc tiêu thụ những thứ rau không thích có thể cải thiện khi các bé được nhìn thấy bạn bè mình, chọn và ăn những món mà trước đây chúng không ưa. Cũng Birch (1999) đã nhận thấy, tác dụng của việc làm mẫu khiến trẻ muốn ăn lại còn tùy thuộc vào quan hệ giữa trẻ với người làm mẫu. Trẻ lớn làm mẫu hiệu quả hơn trẻ nhỏ. Mẹ làm mẫu hiệu quả hơn người lạ. Theo kinh nghiệm của tôi, các ông cha đặc biệt hiệu quả trong vai trò làm mẫu.

04. Hệ quả của những trải nghiệm tiêu cực trong và sau ăn

Ai cũng biết, con người thường liên hệ giữa mùi vị của món ăn, và chuyện thích hay không thích món ăn đó, với hệ quả theo sau việc ăn ( món đó ). Nếu những liên hệ này là tích cực, được lặp đi lặp lại, trẻ dần dần sẽ thích món ăn đó. Mặt khác, Schafe và Bernstein (1996) đã mô tả cách những trải nghiệm tiêu cực như nôn, ọe, ... dẫn tới ác cảm với thức ăn. Ai cũng biết, một khi đã có ác cảm với món nào đó, cái món ấy sẽ bị tránh xa, và một trải nghiệm ác cảm đơn lẻ thôi, cũng có thể dẫn tới việc tránh hẳn món ăn đó trong nhiều năm về sau.

Điều này đặc biệt quan trọng để hiểu rõ vì sao trẻ nhỏ lại kịch liệt từ chối một món sau khi đã có trải nghiệm ác cảm với món ấy. Những phản ứng ác cảm có thể có nhiều mức độ, từ phun, ọe, tới ói. Một khi đã có trải nghiệm xấu, trẻ sẽ lưỡng lự khi phải thửu món đó lần nữa. Một vài trẻ còn vơ đũa cả nắm, tránh xa tất cả những món có cùng màu, cùng vẻ, và hệ quả là chúng từ chối nguyên cả một nhóm thức ăn. Thí dụ, trẻ có thể không chịu ăn bất kỳ loại rau xanh nào, nếu chúng từng bị ói khi ăn rau chân vịt.

Một mô hình để hiểu về chứng ác cảm với thức ăn


Có vẻ như một số trẻ sinh ra đã có sự nhạy cảm đặc biệt đối với vị, kết cấu ( độ mịn thô ), nhiệt độ, và hoặc mùi của một vài loại thức ăn. Tính nhạy cảm với các độ mịn thô khác nhau của thức ăn, có thể xuất hiện vào lúc mới đẻ, và trẻ có thể gặp khó khăn khi ngậm vú mẹ, cuối cùng là bú chậm. Còn nhạy cảm với vị có thể trở nên rõ ràng, khi trẻ sơ sinh không chịu chuyển từ công thức sữa này sang không thức sữa khác. Một số trẻ lại lộ rõ triệu chứng khi lần đầu thử các món ăn dặm có vị khác nhau, và chúng thể hiện sự nhạy cảm bằng cách nhăn mặt, phun, ọe, hay ói. Trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ, có thể phản ứng rất dữ với kết cấu của thức ăn, đặc biệt là những món lổn nhổn, thí dụ bột có trộn với những mẩu rau thịt trong đó.

Sự nhạy cảm với vị và với độ mịn thô của thức ăn, là có liên quan với tạng "siêu nếm" của trẻ, cũng như sự gia tăng số lượng nụ vị giác trên lưỡi trẻ. Tạng siêu nếm là có di truyền, từ đó giải thích được vì sao những nhạy cảm này thường xuất hiện từ sớm, lúc đầu đời. Sau khi trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ đã có kinh nghiệm xấu với một món ăn, thường các bé sẽ từ chối ăn món đó lần nữa, thậm chí còn từ chối luôn các món khác có cùng màu, cùng vẻ ngoài. Đây gọi là phản ứng ác cảm thứ phát có được sau một trải nghiệm xấu trong và sau khi ăn, và loại ác cảm này được trẻ nhớ rất dai. Nếu cha mẹ cứ tiếp tục cho trẻ ăn những thức ăn đáng ghét này, việc chống đối của trẻ khi cho ăn sẽ càng tăng.

Những nghiên cứu giúp hiểu rõ thêm về chứng ác cảm với thức ăn


Nghiên cứu còn chỉ ra rằng, một số trẻ đặc biệt sợ thử thức ăn mới, nếu bản tính nói chung của các bé này thuộc loại cẩn thận, tránh xa rắc rối, và bản tính này đa phần là do di truyền ( chứng sợ món ăn mới ). Tập hợp tất cả những phát hiện này lại, ta thấy, một số trẻ sinh ra đã khó tính hơn với mùi, với vị, và kết cấu của thức ăn, những trẻ này đặt ra cho cha mẹ chúng một thách thức đặc biệt. May thay, những điểm yếu về gien có thể điều chỉnh được nhờ môi trường. Cho tiếp xúc thường xuyên với số lượng nhỏ thức ăn mà không đặc nhiều áp lực, cũng như không khen ngợi thái quá, sẽ giúp trẻ chấp nhận những món mà thường ra chúng sẽ tránh xa. Nhìn cha mẹ, anh chị và bạn bè ăn làm mẫu cũng có thể giúp trẻ thắng được nỗi sợ hãi phải thử đồ ăn mới.



Tác giả : DR. IRENE CHATOOR
Người dịch : Thiên Lương
Up file : Nguyễn Thanh Tâm
Hệ thống website Báo Giá Tour Du Lịch baogiatour.com
Sách Bé Yêu Học Ăn của Dr Irene Chatoor

==============================================
Đăng ký tour du lịch vui lòng liên hệ
Trưởng phòng kinh doanh: Nguyễn Thanh Tâm ( Tâm Pacific )
Hotline: 0911.46.33.89
Tổng đài tư vấn miễn phí: 01283.98.69.98
Website Pacific Travel www.baogiatour.com
Fanpage www.facebook.com/NguyenThanhTamSearchBox
#tourthailan  #toursingapore  #tourcampuchia  #tourtrongnuoc
==============================================


Những nghiên cứu giúp hiểu rõ thêm về chứng ác cảm với thức ăn

Bạn đang xem một trong các bài viết tại Chuyên Mục be-yeu-hoc-an-dr-irene-chatoor . Và đây là địa chỉ link bài viết http://www.baogiatour.com/2017/06/nhung-nghien-cuu-giup-hieu-ro-them-ve-chung-ac-cam-voi-thuc-an.html . Ban biên tập BaoGiaTour.com xin cảm ơn bạn đã theo dõi bài viết này. Đừng quên nhấn LIKE Chia Sẻ để ủng hộ ban biên tập BaoGiaTour.com nếu bài viết có ích !

BaoGiaTour.com DMCA Protection Status